Lượt xem: 301
MỘT SỐ LƯU Ý VỀ KỸ THUẬT “NUÔI CUA BIỂN THƯƠNG PHẨM TRONG HỘP NHỰA KẾT HỢP NUÔI CÁ RÔ PHI” ​

    Cua biển là một trong những đối tượng nuôi thủy sản nước mặn lợ có giá trị kinh tế cao, đã được người dân Sóc Trăng nuôi theo cách truyền thống từ lâu tại các địa phương như thị xã Vĩnh Châu, huyện Trần Đề, Mỹ Xuyên, Cù lao Dung,... Tuy nhiên, quy mô phát triển còn nhỏ lẻ, số hộ nuôi thành công chưa cao, việc áp dụng quy trình kỹ thuật nuôi còn hạn chế, nguồn thức ăn từ cá tạp hiện nay cũng rất hiếm không thể chủ động được nguồn thức ăn cho Cua khi nuôi.

    Nhằm tận dụng diện tích mặt nước ao đã tạm ngưng hoặc không còn nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng trước đây, để nâng cao hiệu quả nuôi Cua biển ở vùng nuôi nước lợ thì việc cải tiến quy trình nuôi là hết sức quan trọng. Trong đó, việc nuôi Cua hai giai đoạn và nuôi trong hộp nhựa, sử dụng thức ăn công nghiệp kết hợp với thức ăn tươi sống, đặc biệt là việc chọn cá rô phi để nuôi kết hợp trong ao nuôi Cua làm thức ăn cho Cua sẽ góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, hạn chế mầm bệnh trong vùng nuôi thủy sản nước lợ, giúp hỗ trợ cho người nuôi trong khu vực tổ chức sản xuất được hiệu quả và ổn định. Để việc nuôi Cua biển thương phẩm trong hộp nhựa kết hợp nuôi cá rô phi đạt hiệu quả cần lưu ý các nội dung như sau:

1. Chuẩn bị ao

1.1. Thiết kế ao

    - Chất đất nền đáy: thịt pha sét hay cát, bùn đáy ao không quá 20 cm.

    - Diện tích: Tùy theo ao sẵn có, nên chọn ao khoảng 1.000m2 để thuận tiện trong chăm sóc quản lý, độ sâu 0,8-1,2 m, mặt bờ rộng 1-1,2 m.

    - Ao nuôi cá rô phi để phục vụ nuôi Cua cũng tùy theo diện tích, chọn khoảng 1.000m2; Cá rô phi dùng làm thức ăn cho Cua và để xử lý cải thiện môi trường hạn chế dịch bệnh.

1.2. Cải tạo

    - Sên vét sạch hết bùn đáy ao, bón Vôi CaCO3, liều lượng 20-30kg/1.000m2 (tùy độ phèn của đất).

    - Chất chà trong ao để làm chỗ trú ẩn, tránh cho Cua ăn lẫn nhau khi lột xác, chà chiếm từ 40% diện tích ao nuôi. (Chà bằng cây khô, cây khô nhỏ bó thành bó).

    - Lấy nước vào ao nuôi qua túi lọc bằng vải kate, mức nước đạt trên 60cm, sau 3 ngày tiến hành diệt khuẩn bằng thuốc tím 3kg/1.000m3 nước.

    - Gây màu nước bằng cách bón Dolomite 10kg/1.000m3 nước.

    - Kiểm tra các yếu tố trong ao phù hợp thả nuôi: pH từ 7.5 - 8.5, độ mặn 10 - 15‰, độ kiềm 80 - 120mg/lít, nhiệt độ 28 - 300C, độ trong 30 - 35cm.

1.3. Thiết kế hộp nuôi Cua

    - Hộp hình chữ nhật: được làm bằng nhựa PP. Kích thước: dài 27 cm, rộng 20 cm, cao 40 cm. Thành hộp dày 1,2 - 02 mm. Phần nắp hộp nằm trên mặt nước cao 5,0 - 5,5cm. Mặt trên có cắt lỗ 03 x 03 cm để thuận tiện trong quá trình cho ăn. Đáy hộp có khoảng 12 lỗ, mỗi lỗ 8 - 10 mm cho nước luân chuyển.

Hộp nhựa nuôi Cua biển

    Việc thiết kế lỗ thoáng mặt đáy là hình chữ nhật có tác dụng làm giảm cường độ chiếu nắng của mặt trời, lưu thông nước và hạn chế sự rơi lọt thức ăn ra khỏi hộp.

    - Cách ghép các hộp thành bè nuôi cố định trên mặt nước:

    + Dùng hai ống nhựa hoặc hai thanh tre thẳng (gọi là khung giàn hộp nuôi cua) để cố định các hộp. Mỗi cạnh bên của hộp được buộc với khung.

    + Giàn hộp được cố định trên bề mặt ao nuôi. Ghép 05 giàn hộp thành một bè, khoảng cách giữa 02 bè là 02 – 03 m.

    Các bè nuôi được cố định chắc chắn bằng cọc tre và dây neo tạo thành một hệ thống các bè nuôi. Bố trí khoảng 2.000 hộp cho ao 1.000 m2.

2. Nuôi Cua biển giai đoạn 01

2.1. Chọn giống và thả giống

    - Cua giống kích cỡ hạt me

    - Mật độ thả 03 - 05 con/m2 đối với nuôi Cua biển giai đoạn 1. Thả giống lúc sáng sớm, trước khi thả nên thuần Cua biển thích hợp với nhiệt độ và độ mặn của ao nuôi, thả tập trung ở một khu vực, không nên thả giáp ao để dễ cho ăn và theo dõi.

Cua biển giống

2.2. Chăm sóc quản lý

    Phương pháp cho ăn: Thức ăn cho Cua biển giai đoạn 1 là thức ăn công nghiệp loại sử dụng cho tôm sú có hàm lượng đạm từ 40 - 42% sử dụng thức ăn này giúp Cua tăng trưởng tốt và hạn chế ô nhiễm môi trường ao nuôi.

    Tham khảo khẩu phần cho 4.000 cua ăn giai đoạn I (từ 1 - 40 ngày tuổi).

Ngày tuổi

Lượng thức ăn

công nghiệp
trong ngày (kg)

Kích cở

Số lần/ ngày

1 - 5

0,30,5

01 mm

02

6 - 10

0,11,0

01 mm

02

11 - 15

1,0 – 1,5

02 mm

02

16 - 20

1,52,0

02 mm

02

21 - 25

2,0 – 2,5

03 mm

02

26 - 30

2,53,0

03 mm

02

31 - 35

3,0 – 3,5

03 mm

02

36 - 40

3,54,0

03 mm

02

    Cho ăn 2 lần/ngày lúc sáng sớm và chiều mát. Dùng sàng ăn để kiểm tra khả năng bắt mồi và sức khỏe Cua (có thể bỏ từ 2-3% lượng thức ăn trong cử ăn vào sàng ăn và kiểm tra sàng sau 1,5 - 02 giờ). Bổ sung khoáng chất, dinh dưỡng và vitamin C, tỏi tươi với liều lượng 05 - 10 g/kg thức ăn để giúp Cua tăng sức đề kháng và tăng trưởng tốt.

    Quản lý môi trường ao nuôi: Định kỳ 10 - 15 ngày thay 20 - 30% lượng nước trong ao nuôi, sau 01 - 02 ngày tiến hành diệt khuẩn bằng Iodine hoặc BKC (liều lượng tùy theo từng dòng sản phẩm) sau khi diệt khuẩn 02 - 03 ngày tiến hành cấy vi sinh và bón vôi CaCO3 10 - 15 kg/1000 m3 để cải tạo đáy ao giúp tăng cường vi sinh có lợi phát triển và ổn định các yếu tố môi trường.

    Thời gian sau 02 tháng nuôi, Cua lúc này có trọng lượng 50 -70 gam thì bắt đầu chuyển dần dần Cua sang nuôi Cua trong hộp nhựa.

    Có thể thu Cua bằng nhiều cách nhưng có 02 cách dùng phổ biến: Dùng cần câu Cua biển vào lúc trời mát phương pháp này ít gây tổn thương Cua nhưng tốn nhiều công hoặc dùng lồng bẫy đặt Cua vào buổi tối, phương pháp này ít tốn công nhưng thu tập trung, số lượng nhiều nên dễ gây tổn thương Cua biển do chúng kẹp cắp nhau.

3. Kỹ thuật nuôi Cua biển giai đoạn 02 (nuôi Cua biển trong hộp nhựa trong ao cá rô phi)

3.1. Thực hiện thả Cua

    Mở từng hộp, cho mỗi con Cua vào một hộp rồi tiến hành buộc chặt hai nửa hộp lại với nhau bằng dây thép không gỉ hoặc dây gân. Kiểm tra mối buộc để Cua không thoát ra ngoài.

    Do Cua biển có tính hiếu động, bản năng tự vệ cao nên các thao tác bắt Cua thả vào hộp phải nhanh, chuẩn xác, không để cua cắp phải bất cứ vật gì để có thể làm rụng mất chân càng Cua. Thời gian thả Cua càng nhanh càng tốt, tránh Cua bị mất nước.

    Thả giàn hộp xuống ao nuôi: Trước khi thả giàn hộp Cua xuống ao nuôi nên phun nước của ao vào các hộp, thời gian phun nước khoảng 03 - 05 phút để Cua thích nghi với môi trường (nhiệt độ) nước của ao.

3.2. Chăm sóc Cua và quản lý ao nuôi

    - Thường xuyên vệ sinh sạch sẽ hộp nuôi Cua, dùng bàn chải nhựa cọ nhẹ mặt ngoài của hộp, tránh làm Cua sợ và làm đục nước vùng nuôi Cua.

    - Thường xuyên kiểm tra yếu tố môi trường nằm trong điều kiện cho phép và ổn định. Màu nước xanh đọt chuối hoặc vàng nâu.

    + Nếu màu nước tảo phát triển mạnh (xanh đậm) và pH > 9 điều chỉnh bằng cách thay nước.

    + Nếu pH < 7.5 nâng pH bằng vôi (sử dụng CaCO3) liều 10-15 kg hòa nước tạt cho 1.000m3.

    + Kiểm tra độ kiềm để bổ sung khi độ kiềm thấp hơn 80mg/lít bằng vôi CaCO3 liều dùng 10-15kg/1.000m3 nước, hay bổ sung Canxi vào thức ăn cho Cua (Canxium, Canxiphos liều dùng như hướng dẫn) để giúp Cua tạo cứng vỏ sau khi lột.

    - Trong thời gian nuôi thường xuyên quan sát hoạt động của Cua biển, quan sát các phụ bộ bên ngoài, Cua phải nhanh nhẹn, khoẻ, không bị nấm ký sinh bám ngoài vỏ. Nếu Cua biển có hiện tượng nhiễm bệnh thì phải tìm nguyên nhân và biện pháp xử lý kịp thời.

    - Khoảng 10 - 15 ngày thay nước ao một lần để tạo môi trường mới cho Cua biển. Nước thay phải có các yếu tố môi trường pH, độ kiềm, độ mặn, nhiệt độ nằm trong khoảng thích hợp và không chênh lệch quá lớn với điều kiện môi trường ao nuôi để tránh gây sốc cho Cua biển, mỗi lần thay 20 - 30 % lượng nước trong hộp.

   Sau khi thay nước dùng Daimetin, Dolomite 15-20kg/1.000m3 để duy trì độ trong, tạo hệ đệm cho tảo phát triển.

    - Thức ăn: Cho ăn Cua ăn thức ăn công nghiệp đồng thời bổ sung thêm thức ăn tươi như cá rô phi được bắt từ ao nuôi Cua trong hộp đã được thả từ trước, tép, nhuyễn thể.... Khẩu phần thức ăn có thành phần dinh dưỡng theo hàm lượng đạm đã được xác định.

    Khi Cua biển đạt trọng lượng (70 - 80 g/con) đến cua thịt cho ăn từ 2 - 3% trọng lượng thân, cho Cua ăn 01 lần /ngày lúc chiều mát. Lượng thức ăn tăng mỗi ngày, thường xuyên kiểm tra khả năng bắt mồi của Cua biển để có chế độ tăng giảm hợp lý.

    Để Cua lên gạch tốt: khẩu phần thức ăn của Cua gạch hàng ngày lớn hơn 20% trọng lượng Cua, mỗi ngày cho Cua ăn 02 - 03 lần vào sáng sớm, chiều mát và lúc đêm.

    Cần phải thường xuyên kiểm tra sức khỏe Cua nuôi tại mỗi ao, việc chuyển cua sang ao nuôi mới, cùng chế độ cho ăn để chủ động tạo nên chất lượng thịt Cua và gạch Cua cho phù hợp mục đích.

4. Phòng và trị bệnh

     - Khi Cua biển không lột xác do pH thấp có thể dùng Vôi CaCO3 để làm tăng pH, liều lượng 10 kg/1.000m3.

    - Nếu Cua biển có hiện tượng đóng rong do thức ăn dư hoặc do nguyên sinh động vật bám (hiện tượng đóng su) có thể sử dụng biện pháp thay nước để làm sạch môi trường và sử dụng BKC 0,5 - 1lít/1.000m3.

    - Những ngày trời nắng nóng hoặc mưa nhiều thường xuyên bổ sung các chất khoáng, Vitamin C vào trong thức ăn. Định kỳ sử dụng các khoáng chất như Daimetin, Zeolite để xử lý đáy ao phân huỷ các chất hữu cơ nền đáy.

5. Thu hoạch

    Khi trọng lượng Cua đạt cỡ khoảng 350 gam/con trở lên thì tiến hành thu hoạch. Nên chọn những hộp có Cua đủ tiêu chuẩn kích cỡ theo yêu cầu thị trường, chất lượng cua gạch, cua thịt hay cua cốm 02 da. Dùng dây chuối ngâm nước, dây cói dập ngâm nước hoặc dây nilon mềm để buộc 02 càng và chân Cua, không cho Cua cử động và cắp lẫn nhau, xếp các con Cua đã buộc vào lồng tre, bên trên phủ bao gai, rong biển hay vải ướt để giữ cho Cua được mát và ẩm.

    Trên đây là một số lưu ý hướng dẫn kỹ thuật nuôi cua trong hộp kết hợp cá rô phi nhằm giúp người nuôi áp dụng vào điều kiện thực tế ao nuôi tại địa phương mình để mang lại hiệu quả kinh tế gia đình./.

Trần Ngọc Tuấn - Trung tâm Khuyến nông tỉnh Sóc Trăng
Thông báo - hướng dẫn



















số lượt truy cập
  • Tất cả: 980879